Friday, December 15, 2017

Nước Mỹ: Không phải tạm dung! - Lệ Hoa Wilson

Tôi đã từ bỏ quê hương điêu tàn, đã quay lưng với tương lai đen tối. Tôi đã chọn một nơi khác để cất nhà, một miếng đất khác để gieo hạt. Tôi đã dùng nước sông của họ để tưới tẩm, dùng đồi núi của họ để chăn nuôi. Tôi đã dùng chất xám của họ để tiến thân, dùng lòng tốt của họ để sống còn. Tôi không bao giờ quên dòng máu Việt trong tôi nhưng tôi sẽ không ngồi đó nhìn non nước này, dân tộc này với một ánh mắt hờ hững, dửng dưng, một thái độ vô ơn, rẻ rúng. Tôi sẽ không coi đây chỉ là một mảnh đất tạm dung và ngồi khóc thương cho một khung trời đã mất, mơ tưởng về một dĩ vãng đã tàn phai.

 
Tôi người Việt Nam. Ông xã người Mỹ. Chúng tôi gặp nhau và thành hôn năm tôi 30 tuổi, đã một lần ly dị và có hai đứa con. Ông xã thì cũng 30 tuổi và còn là trai tơ.
Vùng I chiến thuật lấy Ðà Nẵng (nơi tôi và ông xã gặp nhau) làm thủ phủ nên có rất nhiều bộ chỉ huy trong đó có nhà thương của Hải quân Mỹ là trung tâm y tế cho tất cả binh sĩ Mỹ trong vùng. Qua khỏi ngã tư Mỹ Khê, quẹo mặt để đi vào núi Non Nước, nằm về phía tay mặt là nhà thương. Tôi đoán nó chiếm trọn ít nhứt là năm mẫu đất với các trung tâm y tế mổ xẻ, chữa trị đủ loại, nhà ở cho binh sĩ và dĩ nhiên là một nhà xác! Một nhà xác không có nhiều nước mắt vì thân nhân ở mãi mười ngàn dặm xa!
Trước mặt nhà thương là một bãi đáp trực thăng để tải các thương binh, các chiến sĩ tử trận từ các chiến trường vùng I. Mỗi lần trực thăng đáp xuống thì con đường xe chạy được các quân cảnh Mỹ chặn lại, từng chiếc cáng được vội vã khiêng ra chạy thẳng vào cổng chánh, có người sẽ tỉnh lại với một cái chân nằm đâu đó trong lá rừng rậm rạp, có người sẽ được trở về quê hương dưới lá cờ phủ kín, có người sẽ ngậm ngùi từ biệt những giấc mơ vì cánh tay đã mất, gương mặt đã bị tàn phá, linh hồn đã bị tổn thương…
Vì ông xã thuộc binh chủng hải quân và đóng quân trong nhà thương nên tôi đã có biết bao lần phải ngừng xe, tắt máy, ngồi nhìn những bước chân vội vã, những gương mặt chịu đựng, những ánh mắt buồn hiu của những người tải thương. Mỗi khi có một cái cáng phủ cờ Việt Nam hay Mỹ thì những người Mỹ xuống xe đứng nghiêm chỉnh đưa tay chào vĩnh biệt. Tôi ít khi thấy thương binh Việt Nam, có thể vì họ được chuyển tới một trung tâm y tế khác. Chỉ có một lần tôi thấy một cái cáng được khiêng ra khỏi cửa trực thăng, lá cờ Việt Nam Cộng hòa phủ kín. Tôi không thấy mặt cũng như binh chủng của tử sĩ nhưng một người đàn bà đầu tóc rũ rượi, cánh tay quấn băng treo vào vai còn đẫm máu đang lảo đảo nhảy ra khỏi cửa trực thăng. Tóc chị trước kia chắc được cột lại bằng dây thun, nay chỉ còn một vài lọn lỏng lẻo trên đỉnh đầu còn bao nhiêu thì thả dài rối rắm xung quanh mặt.
Bạn ơi, hình ảnh đau thương nhứt không phải là cái cáng có người chết nằm phủ kín lá cờ vàng chói, không phải dòng nước mắt đầm đìa trên mặt người sống sót mà là một miếng băng vải mỏng dùng để quấn vết thương. Nó bị dơ vì đất và máu. Nó chỉ dài bằng một chiếc khăn mùi soa. Nhưng nó lại được người vợ trân trọng để ngang lên trán, dùng một cọng lạt dừa cột vòng lại sau đầu. Mảnh khăn tang được vội vã quấn tạm thời nhưng sự ly biệt thì chắc chắn ngàn trùng xa cách. Người thiếu phụ Việt Nam đang để tang cho người chồng chiến sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc!
Tôi không ra khỏi xe chào vĩnh biệt người chiến binh nhưng gục mặt vào tay lái nước mắt tuôn rơi khóc thương cho những đứa trẻ đang quẩn quanh trong thôn xóm chờ cha trở lại. Tôi tưởng tượng tới lúc gia đình nghe tiếng chuông reo, mở cửa ra và thấy một người binh sĩ đứng trước mặt với cái nón cầm trên tay. Người mẹ ở ngàn dặm xa kia có ngã xuống vì trái tim tan nát?… Một cái gì đó nhen nhúm trong tâm hồn tôi. Chiến tranh tiếp diễn cho tới một lúc nào đó thì hòa ước được ký, quân đội Mỹ rút đi.
Anh nấn ná xin ở lại Việt Nam và là nhóm binh sĩ cuối cùng ra khỏi phi trường Tân Sơn Nhất vào đầu năm 73. Tháng 6, 1973, tôi sanh đứa con trai đầu lòng cho anh. Tháng 9 năm 74 tôi qua Mỹ thăm anh tiện thể thăm dò chuyện xuất nhập cảnh. Chúng tôi dự định chờ anh ra khỏi quân đội và sẽ về sinh sống tại Việt Nam. Ðiều kiện để tôi nói “I do” là chúng tôi phải ở Việt Nam và sẽ có bảy đứa con. Tôi nào biết trời cao đất rộng là gì, chỉ biết rằng tôi rất ham con và bảy đứa là một con số chấp nhận của gia đình VN, đâu nghĩ rằng đối với người Mỹ hai đứa là lý tưởng, ba đứa là chau mày, bốn đứa là nổi điên, năm đứa là tan nát, sáu đứa là thảm họa mà bảy đứa là… rồi đời!
Thời cuộc thay đổi, đến tháng 3 năm 75 thì tôi quay về Việt Nam để đón các con. Lúc đó tôi đang có thai đứa thứ hai được bảy tháng. Khi còn bên Mỹ, qua tin tức trên báo và tin rỉ ra trong quân đội thì chúng tôi biết chắc là Saigon sẽ mất, nhưng khi về Việt Nam thì Saigon vẫn vui vẻ, vẫn bình yên. Rạp chiếu bóng vẫn hát, tiệm ăn vẫn mở cửa, đám cưới vẫn tiến hành, tình yêu vẫn nở hoa… Tôi thầm cằn nhằn báo chí Mỹ thật là dỏm, toàn là đưa tin vịt không hà.
Nhưng với ngày qua, mọi việc có vẻ tệ hơn. Nhóm người quen bán hột xoàn với mẹ con tôi cùng nhau an ủi rằng “bà Mỹ” còn ở đây chưa chạy thì lo gì. Ông xã tôi kêu điện thoại ngày một hối thúc tôi ra đi. Tôi trả lời là má tôi không cho đi, sợ về Mỹ sanh rồi lấy ai săn sóc, làm sao có củi lửa để hơ, có lá xông để tắm, có nghệ vàng để thoa mặt, v.v. Sanh xong rồi tôi sẽ qua.
Một tuần sau tôi mất liên lạc với anh.
Ngày 20 tháng 4, 1975 một trung sĩ Việt Nam lái xe jeep đến nhà tôi, gõ cửa:
“Xin lỗi đây có phải là nhà của bà Lê Thị Hoa không?”.
Tôi trả lời:
“Trung sĩ ơi, ở đây không có bà Lê Thị Hoa chắc trung sĩ muốn kiếm bà Lệ Hoa phải không?”
Viên trung sĩ vội nói:
“Tôi cũng không biết chắc. Tôi làm việc cho ban an ninh phi trường và được lịnh tới đây chở cái bà có chồng Mỹ lên gặp Đại tá Mỹ phụ tá tùy viên quân sự…”
Tôi cầm lấy giấy và thấy tên tôi. Tôi vội dẫn theo hai đứa con nhỏ nhất lên phi trường Tân Sơn Nhất. Khi vào văn phòng, vị Đại tá cho tôi biết là ông xã đã liên lạc với cơ quan của ông và nhờ họ giúp tôi và các con phương tiện để rời Việt Nam.
Vị Đại tá nhìn xấp tài liệu nói:
“Chồng bà yêu cầu Tòa Đại sứ giúp đỡ bà và ba đứa con di tản khỏi Việt Nam lập tức. Xin bà hãy để hai đứa trẻ này lại đây cho cô thơ ký tôi trông chừng, còn bà thì theo xe trở lại nhà và dẫn đứa thứ ba tới đây, chúng tôi sẽ làm giấy tờ và gia đình bà sẽ ra đi nội trong ngày nay”.
Tôi ngẩn ngơ nhìn vị Đại tá ngồi nghiêm chỉnh trước mặt:
“Ngài Đại tá, ngài có nói chơi không? Tôi sanh ra, lớn lên, sống ba mươi lăm năm tại non nước nầy giữa cha mẹ, thân nhân, bạn bè… và bây giờ ngài cho tôi hai tiếng đồng hồ để từ bỏ tất cả… Xin ngài hãy nói là ngài nói chơi, chuyện này không có thật…”
Nước mắt tôi ứa ra và chắc là tôi có vẻ bi thương của một con thú sắp chết nên vị Đại tá rộng lượng nhìn tôi:
“Tôi biết tình cảm của bà. Thôi bà hãy dẫn con về và ngày mai trở lại. Ngày mai, bà có nghe rõ không? Chuyện đầu tiên bà thức dậy ngày mai là cùng ba con lên xe đến đây. Tôi sẽ gởi người trung sĩ này đến nhà bà sáng mai”.
Tôi về nhà và cả nhà bắt đầu khóc. Tôi đi lên đi xuống thang lầu, mở các hộc tủ ra rồi đóng lại, ra sân thượng nhìn chậu cúc héo queo, xuống nhà bếp ngồi lên bộ ván ngựa, vô nhà tắm rờ rờ cái lon múc nước, ra phòng khách nằm lên võng đưa kẽo kẹt… Tôi như người mộng du, làm tất cả những hành động vô nghĩa đó với tiếng khóc hụ hụ.
Ba giờ chiều tôi gọi điện thoại cho vị Đại tá biết là vì tôi bị xúc động nên đã động đến cái thai. Hiện giờ tôi đang ra huyết và Bác sĩ cấm không cho tôi di chuyển cho đến ba ngày sau. Dĩ nhiên vị Đại tá không dám giỡn với tánh mạng người khác nên phải đồng ý cho tôi thêm ba ngày nữa. Tôi không nghĩ là sau ba ngày đó tôi còn có được một giọt nước mắt nào nữa trong cuộc đời.
Ba má tôi không đi vì tôi có người anh đi tập kết: ông bà chờ sự trở lại. Anh rể tôi không đi vì là sĩ quan Cộng hòa: sợ mang tội trốn lính. Chị tôi không đi vì theo chồng.
Ba đứa cháu trai theo tôi vì sợ sẽ phải bị đày đi lính. Một đứa cháu gái theo tôi vì sợ sẽ bị gả ép cho thương phế binh Cộng sản.
Vì thế ba ngày sau tôi mang một bụng bầu tám tháng và bảy đứa nhỏ lên phi trường. Vị Đại tá nhìn tôi như nhìn con quái vật:
“Xin lỗi bà, theo giấy tờ thì tôi chỉ có quyền cho bà và ba đứa con của bà đi. Hiện tại bà có tới bảy đứa! Tôi thật không thể giúp bà”.
Khi người ta phải phấn đấu cho sự sống chết thì can đảm và khôn ngoan ở đâu bất chợt hiện ra. Tôi nhẹ nhàng nói:
“Tôi hiểu thưa Đại tá. Tôi không trách ông. Nhưng đây là những đứa cháu tôi nuôi từ nhỏ giống như con tôi vậy. Nếu ngài không cho chúng đi thì mẹ con tôi cũng xin ở lại”.
Vị Đại tá bối rối nhìn tôi. Có lẽ ông đã biết rằng rồi thì Việt Nam sẽ mất, rồi thì một làn sóng người sẽ cuồn cuộn ra đi. Sớm một vài ngày, bốn đứa trẻ này có thấm gì đối với số người đang rần rộ chen lấn ngoài kia. Ông thở dài, ngồi xuống ghế ký cái công văn “eight months pregnant wife and seven children of US citizen need to be evacuated” rồi đưa cho tôi. Chúng tôi theo dòng thác người nhớn nhác ra đi.
Chúng tôi tới Camp Pendleton ngày 5 tháng 5 năm 1975. Anh đang đóng quân ở Ferndale, một tỉnh lẻ nhỏ nhắn hiền hòa chỉ có bảy ngàn dân, cách San Francisco sáu tiếng đường xe về hướng Bắc. Lúc đó chiến tranh lạnh giữa Hoa Kỳ và Nga Xô vẫn tồn tại nên đây là một căn cứ hải quân rất quan trọng nằm trên một ngọn đồi cao ngó ra biển. Các đài radar tối tân được đặt cùng khắp để theo dõi các tàu ngầm xâm phạm bất hợp pháp vào hải phận Mỹ và California.
Khí trời California lúc đó là 75 độ mà mọi người lạnh cóng. Ðêm thứ hai tại camp, anh lái xe một lèo 16 tiếng để đến đón mẹ con tôi. Mười một giờ khuya một người lính Mỹ đến lều để dẫn tôi lên văn phòng nơi anh đang làm thủ tục.
Bạn có biết lúc đó tôi giống ai không?
Không Giống Ai Hết!
Ðây là một người đàn bà 36 tuổi, tóc hơi dính chùm lại vì cát bụi, mặt hỏm vào, gò má bị nám, mặc một cái áo dài xanh bên hông chỉ gài được một nút ở dưới nách vì thai bụng quá lớn, ngoài khoác một áo bầu thùng thình màu trắng, đầu trùm cái mền xám cột thắt dưới cằm, chiều dài mền thả phấp phới sau lưng. Le lói hơn nữa là người lính Mỹ trẻ thấy tôi run cầm cập nên cởi cái áo lính trận ra, trước mặt đầy những túi để dao găm, lựu đạn v.v… và trùm lên tôi. Tôi bước vào căn lều. Bàn làm việc nằm cuối phòng và anh đang đứng cúi xuống ký giấy tờ.
Chưa bao giờ trong đời tôi lại bước những bước chân nhẹ nhàng, nặng nề, tủi hổ, hoang mang, giải thoát, run sợ như lúc đó. Ðây là lúc bắt đầu cho những ngày tươi sáng với sum họp thương yêu, với nhà lầu chọc trời, với ngựa xe rộn rã, với tương lai đại học hay là lúc chấm dứt cho dòng sông Hậu hiền hòa với hàng dừa nặng trái, lúc từ giã những hàng me xanh thân yêu Trần Quý Cáp, lúc quay lưng lại với bến Ninh Kiều đằm thắm xinh tươi, lúc quì lạy cha mẹ quê hương nói lời vĩnh biệt?
Tiếng bước chân tôi làm anh quay lại. Anh bước tới ôm lấy tôi. Tôi cố gắng để khỏi ngất đi, quì xuống sàn nhà, tay ôm lấy mặt và nghẹn ngào: “Oh My God honey, I lost my family, I lost my country, I lost everything!” rồi tôi khóc nức nở. Anh quì xuống ôm đầu tôi. Anh cũng khóc. Tất cả người Mỹ trong phòng đều rưng rưng.
Ngày 13 tháng 6 năm 1975 tôi sanh cháu Jimmy. Tháng 9 tựu trường, tôi gởi hai đứa nhỏ nhất cho cô bạn, đi làm phụ giáo lớp một trường tiểu học Ferndale, hai đô la rưỡi một giờ.
Hè 1976, tôi đứng bán hot dog trong hội chợ và ba thằng lớn thì đi dọn rửa phân ngựa trong trường đua. Lúc đó Chánh phủ Mỹ còn giàu nên cứ hai năm là các quân nhân được đổi tới một trạm binh khác. Tôi thấy tụi nhỏ rất buồn và sợ rằng sự dời chỗ thường xuyên sẽ làm tụi nó hụt hẫng vì xa bạn nên khuyên anh giải ngũ. Và chúng tôi dọn xuống miền Nam California, tỉnh La Habra.
Tôi thì để tất cả sự nghiệp lại Việt Nam, anh thì trước khi biến cố Việt Nam xảy ra, đã bị thua lỗ tất cả vốn liếng trong một vụ hùn hạp mở tiệm in với một nhóm dân sự nên chúng tôi hoàn toàn… sạch sẽ. Khi đi mướn nhà ở đường Dexford, La Habra, chúng tôi chỉ dẫn theo bốn dứa nhỏ nhất, hai trai hai gái. Chủ nhà là một người đàn ông Mỹ dễ thương, khi biết anh vừa giải ngũ thì rất vui vẻ nói:
“Ô, căn nhà nầy có ba phòng lớn, thật là lý tưởng cho gia đình ông bà với hai trai hai gái. Tôi rất vui lòng cho ông bà mướn”.
Chúng tôi dở khóc dở cười. Anh là người ít nói và chậm chạp nên tôi bèn duyên dáng cười cười nhìn ông
“Thưa ông, nếu tôi nói với ông là chúng tôi có tám đứa con thì ông có tin chúng tôi không?”
Lần nầy thì chủ nhà nhìn chúng tôi dở khóc dở cười. Ông ngẫm nghĩ một lát rồi nói:
“Thôi được, tôi đồng ý cho ông bà mướn. Mỗi tháng tôi sẽ đích thân đến thâu tiền nhà. Hy vọng là mọi sự sẽ tốt đẹp”.
Ông đâu có biết rằng tên tôi là Lệ Hoa nghĩa là một bông hoa mỹ lệ, đẹp đẽ chớ chẳng phải là nước mắt của hoa nghe bạn. Vì thế tôi thích trồng bông, thích vườn tược. Tôi sanh ra và lớn lên ở Cần Thơ, bà con sống ở Ô Môn, Thới Lai, Phong Ðiền, Cờ Ðỏ nên mỗi mùa Hè chị em tôi thường về vườn đi cầu khỉ, chèo ghe, bắt ốc gạo, hái vú sữa. Cái chất vườn Nam Bộ đã ăn sâu vào máu tôi nên hiện giờ nhiều người còn cho rằng tôi không có vẻ gì là sang trọng như người Việt Nam sống ở Mỹ. Biết sao!
Sau khi dọn vô, tôi và các con hì hục cuốc đất, đổ phân và biến cái sân trống rỗng của ông thành ra một cái vườn đầy hoa vạn thọ (đây là để honor má tôi vì bà rất thích bông vạn thọ). Tháng sau khi ông tới thu tiền nhà thì ông ngẩn ngơ và phán một câu, “Tôi không cần phải tới tận nhà thâu tiền nữa, bà cứ viết check gởi cho tôi là được. Cám ơn bà về những bông vạn thọ”.
Một vài người quen xúi tôi xin đi làm waitress vì nghề này tiền lương chẳng bao nhiêu nhưng tiền tip thì… ăn chết không hết. Trời ơi tôi nghĩ tới cái viễn cảnh, anh sẽ đi làm, tôi sẽ đi làm lại còn tiền hưu trí từ quân đội nữa thì quả nhiên là… ăn chết không hết! Tôi vội vàng vác đơn tới tiệm Red Lobster gần nhà xin việc.. Người manager hỏi bà có làm waitress bao giờ chưa? Dạ chưa. Bà có khi nào làm chủ nhà hàng chưa? Dạ chưa. Cứ hỏi…bà có… bà có… bà có…. Cứ trả lời… dạ chưa… dạ chưa… dạ chưa… và thế là tiền ăn chết không hết chỉ là mộng ảo.
Tôi mua tờ báo thấy rao là “Chương trình CETA của Chánh phủ sẽ trả tiền trường cho một năm học để giúp bạn học các nghề văn phòng như thơ ký, kế toán, phụ tá hành chánh v.v… Mỗi tuần chương trình sẽ tặng bạn bốn chục đô để di chuyển và sau khi tốt nghiệp sẽ kiếm việc làm cho bạn…”. Tôi nói với anh đây chắc hẳn là một sự lường gạt vì làm gì lại có sự tốt đẹp như thế. Anh thì lớn lên đã nhập ngũ, phần nhiều thời gian nếu không lang thang trên biển cả thì cũng đóng quân ở một xứ khác ngoài Mỹ nên đối với xã hội dân sự cũng có chút bỡ ngỡ. Tôi hăng hái tới cơ quan xin vào chương trình thơ ký. Người phụ trách chương trình thấy tôi là người tị nạn, chồng lại là cựu quân nhân, hình dạng có vẻ nghèo nên thương tôi. Sau khi nói chuyện và đọc cho tôi viết một đoạn Anh văn, bà nhận tôi vào chương trình thơ ký. Khi tôi lui cui làm giấy tờ, bà dịu dàng hỏi:
“Bà có giỏi toán không? Làm nhân viên kế toán thì nhiều lương hơn thơ ký thường và rất dễ kiếm việc làm”.
Tôi không dám trả lời vì không biết “toán” của bà thuộc về loại gì nên ngập ngừng:
“Dạ tôi cũng không biết chắc”.
Bà lấy ra một bài thi toán đưa cho tôi. Ái dà, bà ơi. Có phải là bà đang chà đạp cái trường Gia Long của tôi không? Tôi là học sinh đệ nhất A đây nha bà, dù tôi không được như bà Dương Nguyệt Ánh ngày nay phát minh ra cái gì là bom tìm nhiệt thì ba cái 25% của 100 là bao nhiêu, 1/3 của 75 có lớn hơn 2/3 của 40 không v.v.. là cái chuyện nhắm mắt cũng trả lời được.
Một năm sau tôi được giới thiệu vào làm cho Công ty nhà hàng Dennys, bộ phận kế toán xuất nhập.
Làm việc bảy năm tại Dennys tôi đã học được biết bao điều về gia đình, xã hội, dân tình Mỹ. Trong những buổi ăn trưa tôi học đan áo, học móc khăn, học cách nấu món ăn Mỹ, Ý, Tây Ban Nha, học cách dạy con, cách đối xử với chồng, học cách không bao bạn ăn để rồi kể lể khi giận hờn nhau, mà mạnh ai nấy móc túi trả phần mình và tình bạn thì không bao giờ sứt mẻ.
Những người bạn ngoại quốc mới này giúp tôi hoàn thiện ngôn ngữ, hiểu rõ những tiếng lóng, sử dụng thành thục những thành ngữ, trả lời điện thoại một cách chuyên nghiệp.
Giúp tôi biết nói cám ơn với con cái. Biết dằn lòng không mở thư của chúng ra kiểm soát. Biết chỉ dẫn chúng tự thực nghiệm cuộc đời hơn là bao che lầm lỗi. Biết nói xin lỗi khi phạm phải sai trái.
Biết văn minh không phải là mặc áo hở ngực hở mông mà là tuân thủ theo Hiến pháp. Biết tự do không phải là mạnh ai nấy làm mà là kính trọng nhân vị của chính mình và của đồng loại. Biết thành công là nhờ vào sự mẫn cán, học hỏi, cầu tiến chớ không nhờ vào nịnh bợ lấy lòng.
Biết các sắc dân khác cũng đầy thương yêu và nhiều đau khổ. Biết kính trọng người Mỹ đen. Biết thương yêu người Mễ nghèo.
Họ cười lăn lóc với cái accent Á Ðông của tôi nhưng họ không chê tôi dốt nát. Họ chỉnh sửa lại những tiếng tôi dùng sai trật nhưng không có ý khinh khi. Họ không đánh giá tôi cao vì tôi đến từ gia đình trưởng giả như tôi khoe khoang. Họ không nhìn tôi thấp kém vì tôi thuộc third world country như báo chí thường đăng tải. Họ nhìn tôi giống như họ, một người vợ, một người mẹ đang cố gắng kiếm tiền một cách lương thiện để giúp chồng nuôi dạy đàn con.
Chín mươi phần trăm nhân viên kế toán là đàn bà. Ðây là những bà mẹ, bà vợ ban ngày làm toàn thời gian, chiều về nấu ăn chăm lo con cái, cuối tuần giặt giũ, lau chùi nhà cửa, dạy con làm bài tập, đi chợ, đi chơi với gia đình. Họ sống bình thường mà còn giỏi hơn tôi là đằng khác.Vậy mà khi xưa tôi cứ nghĩ đàn bà Mỹ là đồ bỏ. Tôi mang tội khinh người. Khi ở Việt Nam tôi ít khi nào giặt quần áo cho tôi, cho chồng, cho con. Tôi chưa khi nào lau chùi cầu tiêu, thức khuya dậy sớm cho con bú, kiểm soát từng bài văn điểm toán cho con. Tất cả đều có anh tài xế, chị vú, anh bồi, chị bếp, cô giáo dạy kèm. Biết bao người đã than trời trách đất rằng sống ở đây sao mà cực quá, xã hội gì mà sướng đâu không thấy chỉ thấy cái gì cũng tự mình làm, thời gian hưởng thụ chẳng bao nhiêu mà làm việc thì quay tròn như chong chóng chẳng lúc nào ngừng. Cực ơi là cực. Chỉ chăm chăm muốn về Việt Nam hưởng thụ.
Bạn ơi, bạn hãy dừng chân một bước. Bạn hãy mỉm cười cầm từng món đồ dơ bỏ vào máy giặt, nhìn vết bẩn trên chỗ đầu gối và hình dung lại gương mặt mếu máo đáng yêu của con nhỏ khi té quị xuống bãi cỏ, nhớ lại ánh mắt chờ mong tin tưởng của con khi mẹ đến đỡ lên.
Bạn hãy nhìn cả nhà húp sột soạt chén canh bầu, cùng chia nhau miếng sườn nướng, cuộn chả giò. Bạn hãy cúi xuống đứa bé đang nở nụ cười ngây thơ chờ mong bình sữa bạn đang đu đưa trước mặt. Bạn hãy vừa xào món tàu hủ vừa trả lời thằng con đang cắm cúi làm bài tập bên kia bàn là Los Angeles không phải là thủ phủ của California con ơi. Thủ phủ của CA là Sacramento hoặc square of three is not three, it’s nine. Và năm phút sau đứa con vui vẻ đứng dậy: “Thank you mom (or dad). My home work is done”.
Ðây mới chính là lúc bạn sống, là lúc mà bạn xuyên thủng qua lớp giáp để linh hồn và huyết nhục bạn và gia đình cùng hòa quyện vào nhau. Ðây chính là lúc hột mè trí tuệ nảy nở trong các con do bạn gieo xuống, lúc hạt giống tình yêu thẩm thấu vào linh hồn chúng do bạn cày cấy vào. Chúng sẽ lớn lên với ân cần bạn gởi vào chén cơm, với giúp đỡ bạn sẻ chia trong bài tập, với thương yêu bạn vuốt thẳng áo quần, với mồ hôi bạn chảy dài trong trận đấu. Và vợ chồng bạn có cùng một trận tuyến, cùng một hướng đi.
Tôi đã từ bỏ quê hương điêu tàn, đã quay lưng với tương lai đen tối. Tôi đã chọn một nơi khác để cất nhà, một miếng đất khác để gieo hạt. Tôi đã dùng nước sông của họ để tưới tẩm, dùng đồi núi của họ để chăn nuôi. Tôi đã dùng chất xám của họ để tiến thân, dùng lòng tốt của họ để sống còn. Tôi không bao giờ quên dòng máu Việt trong tôi nhưng tôi sẽ không ngồi đó nhìn non nước này, dân tộc này với một ánh mắt hờ hững, dửng dưng, một thái độ vô ơn, rẻ rúng. Tôi sẽ không coi đây chỉ là một mảnh đất tạm dung và ngồi khóc thương cho một khung trời đã mất, mơ tưởng về một dĩ vãng đã tàn phai.
Tôi sẽ hòa vào các chủng tộc khác nhau, rơi lệ khi thấy tòa nhà chọc trời sụp đổ, đau thương khi nhìn xác lính được chở về, hân hoan khi nghe bài quốc ca trong các cuộc tranh tài. Tôi sẽ dạy các con cùng tôi nhận nơi này làm quê hương, sẽ đem tất cả khả năng lao động hay học vấn đóng góp vào sự thịnh vượng chung của quốc gia này.
Thay vì trồng cây cổ thụ tạm thời trong một cái chậu nhỏ để nó chỉ được lớn èo uột trong bóng râm, tôi và gia đình muốn đào một hố sâu, đổ đầy phân bón, tưới tẩm nó với tất cả ân cần, săn sóc nó với tất cả sức lực để cho rễ mạnh nó ăn sâu vào lòng đất, cho tàn xanh nó tỏa rộng khắp không gian. Chúng tôi không tạm dung. Chúng tôi mọc rễ và yêu thương quê hương này. Rồi một ngày nào đó, ở bên kia góc trời có cần tới một bóng mát bình an, chúng tôi sẽ chiết bớt một nhánh cổ thụ đem về…
Chúng tôi chỉ có thể làm như thế khi chúng tôi nhận nơi này làm quê hương.

Monday, December 4, 2017

Tuổi xuân huy hoàng, tuổi già hiu quạnh – Cuộc đời của một chính trị gia khiến người ta nhận ra chân lý vĩnh hằng

Margaret Thatcher là nữ thủ tướng đầu tiên của Anh quốc, cũng là một trong những chính trị gia quyền lực nhất trong lịch sử, được truyền thông gọi là “Người đàn bà thép” (Iron Lady) của nước Anh. Nhưng đằng sau hào quang chính trị, “người phụ nữ thép” ấy lại phải chịu đựng nỗi buồn vô tận của sự cô độc và bi ai.
Có sự nghiệp và tình yêu, nhưng thất bại khi làm mẹ
Thatcher từng nói rằng, trong thế hệ của bà, sẽ không có một người phụ nữ nào trở thành thủ tướng. Nhưng chính bà lại làm được điều ấy. Bà không chỉ trở thành nữ thủ tướng đầu tiên ở Anh, chứng minh rằng phụ nữ có thể đặt chân lên bục vinh quang vốn thuộc về nam giới, mà còn làm được điều mà nam giới không thể làm.
Thời trẻ, Thatcher học hành rất chăm chỉ, nhờ vào nghị lực và sự kiên trì bền bỉ, bà đã thi đậu vào trường đại học Oxford. Thatcher đã trở thành nữ ứng cử viên của Đảng Bảo Thủ ở tuổi 25.
Vào thời điểm này, bà gặp Denis, một thương nhân giàu có đang điều hành tập đoàn của gia đình. Denis yêu Thatcher ngay từ cái nhìn đầu tiên, lúc ấy là một cô gái trẻ xinh đẹp và có đầu óc chính trị. Không lâu sau hai người tiến đến hôn nhân, sau hai năm kết hôn họ sinh được đôi long phụng – một trai, một gái.
Nhưng bà mẹ trẻ như Thatcher không có nhiều thời gian dành cho con cái. Khi cặp song sinh mới được hơn hai tuần tuổi, bà lập tức quay trở lại với sự nghiệp chính trị của mình. Lúc ấy, Denis luôn ở phía sau âm thầm ủng hộ vợ, Thatcher đạt được hạnh phúc viên mãn trong hôn nhân nhưng trong quan hệ với con cái bà lại là một người mẹ thất bại.
Bà bận rộn với các hoạt động chính trị, bỏ bê việc giáo dục con cái, cuối cùng trở thành trường hợp “mẫu từ tử bại”, ý nói mẹ tài giỏi nhưng con thì thất bại.
Những năm cuối đời, Thatcher từng nói rằng: “Nếu thời gian có thể quay ngược lại, tôi tuyệt đối sẽ không bước chân vào đấu trường chính trị, vì gia đình tôi đã phải trả giá quá đắt cho điều ấy”.
Cựu thủ tướng Anh Margaret Thatcher (Ảnh: Flickr, Anne Adrian)
Bởi vì trong suốt sự nghiệp, Thatcher luôn bận rộn với các hoạt động chính trị, đến mức không còn thời gian và tâm trí dành cho con cái. Quan hệ giữa bà với cô con gái Carol vô cùng lạnh nhạt; mặc dù cậu con trai Mark gần gũi hơn nhưng lại không cho bà được nở mày nở mặt. Cậu bé ham chơi, lười học, chẳng những thành tích học tập kém mà còn ỷ lại vào quyền thế của mẹ mà tỏ ra cao ngạo, thường “xưng vương xưng bá” trong những năm học đường.
Sau khi trưởng thành, Mark tham gia cuộc đua xe Paris-Dakar Rally năm 1982, sau đó bị lạc nhiều ngày trong sa mạc Sahara. Đây là lần đầu tiên kể từ khi tiếp nhận vị trí thủ tướng, Thatcher rơi nước mắt trước mặt công chúng. Bà đã phải chỉnh cầu chính phủ các nước giúp đỡ để giải cứu con trai.
Sau khi được cứu, con trai của Thatcher lại tiêu phí một lượng rượu lớn trong khách sạn nhưng không chịu chi trả. Cậu cho rằng việc chính phủ giải quyết giúp mình là điều đương nhiên nên không ngừng tranh chấp với ban ngoại giao và các nhân viên khách sạn, cuối cùng cảnh sát phải đích thân can thiệp.
Những năm sau đó, Mark lại mượn địa vị của mẹ và tiền tài của vợ mà không ngừng chơi bời, tham gia các hoạt động mạo hiểm, tiêu tiền tốn của. Khi tham gia vào cuộc đảo chính ở Guinea, cậu bị bắt ở Nam Phi và bị kết án 4 năm tù treo cùng với khoản tiền phạt khoảng 313.000 bảng Anh. Bà Thatcher cũng buộc phải cầm tiền đi Nam Phi để chuộc con trai về.
Những năm cuối cùng khiến người đời cảm thán mãi không thôi
Thủ tướng Thatcher từng nói rằng, nhà là nơi mà bạn không cần phải làm bất cứ điều gì.
Trong ngày kỷ niệm 50 năm kết hôn, Thatcher bất ngờ đột quỵ và mất đi một phần ký ức. Hai năm sau chồng bà qua đời, đó là cú sốc mạnh đối với Thatcher khiến trí nhớ của bà ngày càng kém hơn, bà thường nghĩ rằng ông vẫn còn sống trên đời. Nỗi đau mất chồng không hề thuyên giảm theo thời gian, có một lần tỉnh dậy giữa đêm khuya, bà đã khoác lên mình một bộ quần áo trang trọng, rồi đi đến viếng mộ phần của ông.
Trong lễ sinh nhật lần thứ 77, Thatcher nhận được bốn tấm thiệp chúc mừng, bà bày chúng lên bàn và đăm chiêu ngắm nhìn. Lúc ấy, con trai bà sống ở Tây Ban Nha, con gái thì ở Thụy Sĩ, những đứa cháu đang ở Mỹ, tất cả những người thân yêu đều hiếm khi trở về thăm bà. Carol, con gái của Thatcher tâm sự: “Một người mẹ không thể mong đợi những đứa con đã trưởng thành của mình bỗng chốc trở nên vồn vã, nồng ấm – điều mà chúng không quen”. Đánh đổi cho những năm tháng huy hoàng trên vũ trường chính trị là một tuổi già cô đơn, hiu quạnh. Bà không thể hy vọng được vui hưởng tuổi già bên con cháu, thậm chí một mơ ước con cái sẽ trở về thăm nhà cũng là mơ ước quá xa vời. Đời người giống như một vòng quay tuần hoàn, khoảng thời gian không có người thân bên cạnh ai ai cũng từng trải qua, với Thatcher là những năm cuối đời trống trải, còn với các con của bà là một tuổi thơ thiếu vắng hình bóng mẹ.
“Người phụ nữ thép” Margaret Thatcher (Ảnh: Wikipedia)
Vào lễ đại thọ ba năm sau, có lẽ vì quá tưởng nhớ đến những ngày tháng nhộn nhịp trước kia, nên bà đã tổ chức đại tiệc với 650 khách tham dự, ngay cả Nữ hoàng Elizabeth II, Hoàng tử Charles và Thủ tướng Tony Blair đều đến chúc thọ bà. Thatcher đã lấy lại phong thái năm xưa, vẫn là nụ cười tự tin như ngày nào, nhưng đáng tiếc tất cả chỉ giống như một ánh đèn loé lên trong phút chốc.
Còn lại bên bà, vẫn là màn đêm tịch mịch và những căn phòng hoang vắng không một bóng người thân.
Ở tuổi xế chiều, nhà mới là nơi cuối cùng chúng ta trở về
Trong những năm tháng dài dằng dặc cùng với nỗi cô độc lúc cuối đời, Thatcher lại bị đột quỵ. Mọi thứ đối với bà đều trở thành thử thách, ngay đến xem báo cũng rất khó khăn, vừa đọc câu sau đã quên câu trước. Ở tuổi xế chiều, Thatcher phải chịu nỗi khổ về tinh thần, cơ thể cũng bị bệnh tật tàn phá, lại còn phải chịu đựng sự lạnh nhạt và xa cách của con cái.
Trong phòng, bà đặt rất nhiều bức ảnh của chồng, con, và các cháu. Nhưng bên cạnh bà lại không có bất cứ người thân nào, làm bạn với bà chỉ có bác sĩ và y tá. Cho đến phút lâm chung, con trai, con gái cũng không có mặt kịp thời để lo lắng hậu sự cho bà.
Những năm cuối đời của Thatcher thật khiến người đời phải cảm thán, nhưng làm sao trách được mệnh Trời? Ai ai cũng phải sống cho xã hội, cho thân nhân, và cho chính mình. Những năm tháng son trẻ khiến con người ta chìm đắm trong sự nghiệp, trong danh vọng và hào quang của quyền lực. Nhưng khi ánh hào quang ấy qua đi, ta chỉ còn lại ta, chỉ còn lại cái thân xác đã hao mòn vì năm tháng. Vậy thì, đâu mới là cuộc sống đích thực của chúng ta? Là tuổi trẻ ước mơ hoài bão, là những năm tháng phồn hoa, là vinh quang tột đỉnh, hay là một tinh thần thản đãng và bình yên?
Đám tang của bà Margaret Thatcher (Ảnh: Flickr, Chris Beckett)
Với cố thủ tướng Anh Margaret Thatcher, có lẽ bà là người thấu hiểu hơn ai hết rằng: Sự nghiệp có thể cho chúng ta danh tiếng, địa vị và cảm giác thành tựu. Nhưng đến lúc chúng ta cởi bỏ chiếc áo choàng danh vọng ấy, thì trong đêm khuya một mình thanh tĩnh cũng là lúc chúng ta hiểu rằng ai cũng sẽ dần dần già đi. Danh tiếng cuối cùng rồi cũng sẽ phai nhạt, cảm giác thành tựu rồi cũng dần tan biến. Tiền dẫu còn giữ lại được, thì khi già cả yếu ớt, cả núi vàng biển bạc cũng không thể mang lại hạnh phúc. Cuối cùng, chỉ có gia đình mới là nơi trở về, nơi cho ta nương tựa.
Lúc bị thương, nhà là một chiếc ô che mưa chắn gió, lúc vui vẻ nhà là nơi hạnh phúc ấm áp đong đầy. Sự nghiệp không thể nào thay thế cho tình người, công danh cũng không thể thay thế cho một gia đình hạnh phúc. Đáng tiếc đến giai đoạn cuối cùng của cuộc đời, rất nhiều tỷ phú và những chính trị gia quyền lực mới nhận ra điều này.
Mong rằng những ai đọc bài viết này sẽ hiểu được, tiền tài, danh tiếng chỉ là những thứ nhất thời, đều không thể đem lại cho chúng ta hạnh phúc lâu dài, chỉ có gia đình mới là nơi chúng ta dựa dẫm cả đời, là nơi đáng tin cậy và là nơi cuối cùng chúng ta đi về.
Nguyện cho những ai đọc bài viết này đều cùng gia đình sống hòa thuận, hạnh phúc một đời.
Theo Soundofhope Thanh Bình

Tuesday, November 21, 2017

Mặc bikini bán cà phê: Tự do diễn đạt hay tự phơi thân gây phạm tội?

EVERETT, Washington State (NV) –  Một thẩm phán tòa liên bang ở thành phố Everett, tiểu bang Washington, hôm Thứ Ba tuần này sẽ lắng nghe cuộc tranh luận liên quan đến hai đạo luật của thành phố, theo đó cấm mặc bikini khi bán cà phê vì sợ gây nguy hiểm cho cộng đồng.
Phía chủ quầy bán cà phê cho rằng việc mặc bikini khi bán cà phê, cho dù có phơi bày thịt da, là một hành động diễn đạt ý tưởng được Đệ Nhất Tu Chính Án bảo vệ, yêu cầu tòa ra lệnh cấm thành phố thi hành hai luật vừa thông qua nhằm ngăn cản hoạt động của họ, theo bản tin của tờ báo Seattle Times.
“Hiến Pháp không cho phép chính quyền kiểm soát nội dung của sự phát biểu, chỉ vì chính quyền không đồng ý với nội dung đó,” theo lời ông Derek Newman, một luật sư của phía nguyên cáo. “Nếu Đệ Nhất Tu Chính Án bị giới hạn như vậy, thì sự kiện các cầu thủ NFL quỳ xuống trong lúc chào quốc kỳ để phản đối sự bạo hành của cảnh sát sẽ không được bảo vệ là quyền tự do phát biểu vì tổng thống coi đây là hành vi chống nước Mỹ.”
Thành phố Everett đáp trả lại rằng các quầy bán cà phê bên lề đường với nhân viên mặc bikini này tạo ra “sự phát triển tội phạm tính dục” và nói rằng các cô gái bán cà phê ăn mặc hở hang tạo ra cảm nghĩ và thái độ xấu đối với phụ nữ, như đã thấy trong các hành vi xách nhiễu tính dục của nhà sản xuất phim ảnh Hollywood Harvey Weinstein.
“Thành phần nam giới nhìn chằm chằm vào các cô gái mặc bikini là sự tiếp nối của tình trạng tính dục hóa phụ nữ,” theo lời Mary Anne Layden, Ph.D., một chuyên gia tâm thần và giám đốc chương trình về tấn công tính dục ở đại học University of Pennsylvania, được thành phố Everett mời làm nhân chứng chuyên môn.
Bà Layden, trong bản nhận định dài 31 trang, có tuyên thệ nói đúng sự thật, cho rằng y phục mà các cô gái bán cà phê mặc thật ra không phải là bikini, mà giống như của những người vũ khỏa thân mặc, với dụng ý gợi dục, tờ Seattle Times cho hay.
Bà Layden nói rằng các cô gái bán cà phê không có chú trọng nhiều vào việc pha cà phê hay diễn đạt ý tưởng bằng việc có các hành động tự biến mình thành “đồ vật tính dục”, ảnh hưởng đến cộng đồng, vì những người ghé vào quán có thể mang theo những ý tưởng, suy nghĩ xấu này về nhà hay cộng đồng của họ.
Theo hồ sơ tại tòa, một số cô gái bán cà phê nói rằng số tiền tip họ có được từ khách hàng có khi lên tới $100,000 một năm.
Bà Jovanna Edge, người cùng làm chủ năm quầy bán cà phê có tên “Hillbillly Hotties”, nói rằng cách ăn mặc của nhân viên không gây hại cho phụ nữ và cũng không thu hút tội phạm. Bà nói rằng khách hàng thường xuyên của mình là những người đàng hoàng và các trao đổi trò chuyện không liên hệ gì tới sex.
“Các quầy bán của tôi kiếm được nhiều tiền hơn là một quầy bán bình thường, với người bán cà phê không mặc bikini, bởi vì nhân viên của tôi diễn đạt suy nghĩ của họ qua cách ăn mặc,” Bà Edge khai với tòa.
“Khi mặc bikini, nhân viên của tôi đưa ra các thông điệp qua hình xăm trên người của họ và ngay cả các vết sẹo của họ. Và họ cũng có thể có các cuộc nói chuyện khiến thu hút khách hàng sẵn sàng trả thêm tiền hơn là tại các quầy bán cà phê khác. Nếu không mặc bikini, nhân viên của tôi không thể bày tỏ cảm nghĩ của qua hình thức thu hút các khách hàng sẵn lòng trả tiền cao hơn,” bà Edge nói, cũng theo tờ Seattle Times. (V.Giang)

Monday, November 20, 2017

Hoa Kỳ và Biển Đông

Biển Đông gồm Trường Sa và Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam, trước đây được xem như vùng biển quốc tế để các thương thuyền, chiến hạm lưu hành tự do. Từ khi Trung Cộng tự nhận chủ quyền “hình lưỡi bò chín đoạn”, bồi đắp đảo tân tạo và đặt cơ sở quân sự thì Biển Đông dậy sóng. Sự căng thẳng giữa  Trung Cộng (TC) và Hoa Kỳ (HK) trên Biển Đông càng ngày càng cao, từ can thiệp ngoại giao, tuần tra quân sự, tập trận bắn đạn thật liên tục xẩy ra trong vùng… Việt Nam, với địa chính trị quan trọng, trở thành tâm điểm để các cường quốc kéo vào quỹ đạo của mình… Vấn đề đặt ra là HK có dám bỏ Biển Đông mà giữ được vị thế siêu cường trong thế kỷ thứ 21 hay không? Từ đó cho ta viễn ảnh về quan hệ Mỹ-Việt  trong tương lai.

1) Hoa Kỳ thay đổi chiến lược biển sau Chiến Tranh Lạnh (1945-1991):
Sau khi khối Cộng Sản tan rã năm 1991, chiến tranh lạnh chấm dứt. Năm 1992, HK lập tức thay đổi chiến lược biển toàn diện.  Phân chia những hạm đội hải quân “đóng chốt” tại các eo biển có tuyến hàng hải huyết mạch trên thế giới nhờ các lực lượng HKMH thuộc lớp Nimitz, các đội Tàu Ngầm và chiến hạm chạy bằng năng lượng nguyên tử, không cần tiếp tế nhiên liệu. 
Riêng tại vùng biển  Tây-Nam Thái Bình Dương, Mỹ kiểm soát những eo biển huyết mạch nằm trên một chuỗi nối tiếp, dễ dàng và nhanh chóng hỗ trợ nhau khi hữu sự. Những eo biển do Hải Quân Mỹ làm “cảnh sát” gồm: Eo biển  Luzon  (Luzon Strait giữa Philippines và Đài Loan),  eo biển Makassar (Makassar Strait giữa đảo Borneo và Celebes Indonesia, nối biển Java và Celebes), eo biển Sunda (Sunda Strait giữa đảo Java và Sumatra Indonesia, nối Ấn Độ Dương với biển  Java); Và eo biển Malacca (Malacca of Strait giữa Mã Lai và Indonesia, nối liền Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương).
Về mặt chiến lược, giữ an ninh những eo biển này tức sẽ giữ dược tuyến hàng hải Ấn Độ – Thái Bình Dương và làm chủ ba chiến lược: giữ an toàn tuyến đường biển chở dầu từ Trung Đông qua Ấn Độ Dương sang Thái Bình Dương, bảo vệ an ninh tuyến đường thương mại mà Mỹ có 60% lượng hàng hoá đi qua hàng ngày, và bảo vệ các nước châu Á Thái Bình Dương mà TT Trump cho là “chòm ngân hà”, đó là vùng đất vàng trong thế kỷ thứ 21.

Những eo biển thuộc Tây-Nam Thái Bình Dương mà Hải Quân Mỹ  thường xuyên kiểm soát

2)  Muốn thành cường quốc phải là cường quốc biển (Sea Power)
Từ thế kỷ thứ 19, Đô Đốc Hải Quân HK Alfred Thayer Mahan (1840-1914) một chiến lược gia lừng danh của Mỹ mà sử gia  John Keegan người Anh gọi Mahan “là chiến lược gia quan trọng bậc nhất của HK trong thế kỷ thứ 19” (1).  Alfred Mahan khẳng định chỉ có sức mạnh trên biển mới giúp các nước trở thành cường quốc chứ không phải sức mạnh trên đất liền. Cuốn The Influence of Sea Power Upon History, 1660–1783 xuất bản năm 1890 của ông là  kim chỉ nam cho những nhà hoạch định chiến lược của các nước thực dân châu Âu đi xâm chiếm thuộc địa.
Theo Mahan, muốn trở thành cường quốc biển, cần những điều kiện như vị trí địa lý của quốc gia tiếp giáp với mặt biển; Có bờ biển đủ rộng và thuận lợi cho hoạt động quân sự, kinh tế và thương mại; Có sức mạnh để bảo vệ vùng biển của mình; Và có phương tiện hữu hiệu cho việc di chuyển trên biển. Lý thuyết đó đã tác động mạnh vào các nước thực dân châu Âu, họ đua nhau đóng chiến hạm vượt đại dương xâm chiếm thuộc địa khắp năm châu bốn bể vào hậu thế kỷ thứ 19 kéo dài đến nửa thế kỷ 20.  Thực dân Anh chiếm Ấn Độ để có Ấn Độ Dương, thực dân Pháp chiếm Việt Nam để có Biển Đông, thực dân Hà Lan chiếm Indonesia xem như chiếm biển Nam Dương v.v..  tất cả đều muốn làm “Cường Quốc Biển” như chiến lược gia Mahan đề xướng.

3) Hoa Kỳ chuẩn bị Siêu Cường Biển
Trong khi chiến lược gia Mahan người Mỹ vạch ra chiến lược “cường quốc Biển” và các nước châu Âu nhanh chóng dùng làm phương châm trở nên những đế quốc Thực Dân xâm chiếm thuộc địa khắp nơi để làm giàu cho mẫu quốc, thì HK không dùng tàu chiến xâm lăng thuộc địa, mặc dù thừa khả năng. Thế giới lúc đó ngạc nhiên thắc mắc: Lẽ nào Mỹ không muốn thành cường quốc? Hay người Mỹ thấy quyền lợi mà không ham? Thật phi lý, ai cũng biết chủ nghĩa của Mỹ là chủ nghĩa “thực dụng” vì quyền lợi…
Nhìn vậy mà không phải vậy, Mỹ không tranh cường quốc biển mà chuẩn bị cho vị thế Siêu Cường Biển. HK đang chuẩn bị một kế hoạch lâu dài vững chắc. Nhìn lại lịch sử chiến tranh của nước Mỹ trên thế giới, ta thấy HK rất điêu luyện về chiến lược “đi sau mà về trước”
Trong thời kỳ Đệ I Thế Chiến (1914-1918), khi chiến tranh đã qua ¾ đoạn đường chiến binh, tháng 6/1917 Mỹ nhảy vào cuộc chiến. Rốt cuộc, Mỹ nhận thành quả nước thắng cuộc. Thời Đệ II thế chiến (1939-1945) cũng vậy, hai năm đầu Mỹ tuyên bố đứng trung lập, đến năm 1941 Mỹ vào cuộc, cuối cùng Mỹ nắm chủ động thắng cuộc.  Cuộc Chiến Tranh Lạnh (Cold War) tuy cuối cùng chiến thắng Cộng Sản nhưng không vinh dự như hai đại chiến trước vì hội chứng chiến tranh Việt Nam. Với kinh nghiệm trong ba đại chiến đó, Mỹ đã chuẩn bị rất kỹ lưỡng để bước lên vũ đài Siêu Cường Biển và duy trì thế siêu cường của mình về lâu dài sau Chiến Tranh Lạnh.
Qua ba cuộc đại chiến, hễ Mỹ dùng chiến lược “đi sau mà về trước” thì đạt những chiến thắng  lừng lẫy, uy tín ngút trời, nâng vị thế nước Mỹ thành quán quân trên chính trường quốc tế.  Từ trước tới nay, Mỹ chuẩn bị làm siêu cường rất chu đáo, không khoe khoan, bồng bột, háo thắng… Mỹ đã chuẩn bị 4 phương tiện làm Siêu Cường Biển như sau.

Thứ nhất, 
về Tàu Ngầm (Submarine), chiếc tàu ngầm đầu tiên do Nga sáng chế bởi Yefim Nikonov và đưa vào phục vụ chiến tranh từ năm 1720.  Nửa thế kỷ sau, năm 1775 Mỹ nghiên cứu tàu ngầm “Turtle”  một người lái (2). Khi chiến tranh Nhật-Mỹ tại Trân Châu Cảng (1941) thì Tàu Ngầm Mỹ tham chiến trở thành mũi nhọn trọng yếu đánh đắm hải quân Nhật. Từ đó đến nay, Mỹ không ngừng nâng cao kỹ thuật tàu ngầm về mọi mặt, hiện nay Mỹ có đội tàu ngầm vô địch về số lượng, cũng như chất lượng và khả năng chiến đấu vô song. Tàu ngầm hải quân Mỹ chạy bằng năng lượng nguyên tử, trang bị hoả tiễn tự hành tối tân Tomahawk (3) và trang bị cả hỏa tiễn mang đầu đạn nguyên tử. 

Thứ hai, 
về Hàng Không Mẫu Hạm (Aircraft Carier), chiếc đầu tiên do Nhật hạ thuỷ là HKMH Hosho vào năm 1922; Hải quân Anh có chiếc HKMH HMS Hermes vào năm 1924 [4]. Ba năm sau, vào tháng 9, 1927 Hải quân Mỹ mới có chiếc HKMH thuộc Lexington-class đưa vào hải quân. Giờ đây khi nói đến HKMH của Mỹ thì thế giới phải kinh ngạc, với 5 hạm đội (3,4,5,6,7) tung hoành trên khắp năm châu bốn biển. Hải quân các quốc gia trên thế giới tổng cộng có 20 chiếc HKMH thì Mỹ chiếm 11 chiếc (55%), và mỗi HKMH của Mỹ chạy bằng năng lượng nguyên tử và trang bị vũ khí tối tân gấp bội lần HKMH của các nước khác [5]. 

Thứ ba, 
về Không Quân, trong thời kỳ đệ I thế Chiến năm 1914, không quân Đức dùng oanh tạc cơ Zipperlins (Airship)  dội bom các mục tiêu khắp châu Âu [6], thì không quân Mỹ chưa thành hình. Năm 1917, Mỹ mới có một đội phi cơ nhỏ hoạt động trong toán American Expeditionary Force (AEF). Thế mà 24 năm sau, 1941 khi Mỹ tham gia Đệ II thế Chiến, oanh tạc cơ của Mỹ bay đen vùng trời và dội bom khắp trên nước Đức. Không những tại châu Âu, mà ở châu Á máy bay B-29 đã có khả năng dội hai trái bom nguyên tử trên đất Nhật kết thúc Đệ II thế chiến. Ngày nay, nói đến không quân Mỹ, những chiến đấu cơ F-16, F-18, F-22 và F-35 đang làm chủ vùng trời thế giới, bên cạnh những máy bay ném bom chiến lược B-52, B1 khổng lồ xuất phát từ từ các phi trường nội địa nước Mỹ có thể bay đến dội bom bất cứ nơi nào trên thế giới rồi trở về với sự tiếp tế nhiên liệu trên không…

Và thứ tư, 
về bộ binh, binh chủng Thuỷ Quân lục Chiến lừng danh qua bao cuộc đại chiến thế giới, cùng với một lực lượng Bộ Binh hùng hậu được trang bị vũ khí cá nhân và xe thiết giáp tối tân,  những giàn hoả tiễn THAAD làm cho thế giới kinh ngạc… THAAD đặt ở đâu thì đối phương lên tiếng phản đối vì sự tối tân và hiệu năng chiến đấu vô song của nó.

Bốn phương tiện chủ động để làm siêu cường thì Mỹ đều “đi sau mà về trước”,  cộng thêm kinh tế luôn hàng đầu với tổng sản lượng (GDP) năm 2016 hơn 25% GDP toàn thế giới (10), nay Mỹ là Siêu Cường Biển vô địch, bỏ xa các nước châu Âu hằng thập niên, và đi trước TC một phần tư thế kỷ.  Trong những năm tháng tới, nước Mỹ lại càng bỏ xa các nước trên thế giới nhờ vào kỹ thuật tối tân và ngân sách quốc phòng khổng lồ.  Như vào tháng 9, 2017, Quốc Hội Mỹ đã chấp nhận ngân sách quốc phòng 700 tỷ USD (năm 2016 chỉ có $523.9 tỷ) chi dùng vào chương trình “từng bước nâng cấp quân đội Mỹ” [7] của TT Trump yêu cầu. Số ngân sách quốc phòng này vượt quá nửa tổng số ngân sách quốc phòng của các nước trên thế giới cộng lại. Với tiềm lực đó, nước Mỹ sẽ trở thành Siêu Cường Biển trong hằng thế kỷ tới khó ai sánh kịp.

Các Hạm Đội Hoa Kỳ (2,3,4,5,6 & 7) đang kiểm soát các vùng biển trên thế giới – Nay hạm đội 3 & 7 (Đông và Tây Thái Bình Dương) cùng dưới một  bộ chỉ huy 

4) Hoa Kỳ hành động ở Biển Đông như thế nào sau Chiến Tranh Lạnh (1992) ?
Không phải giờ này ông Trump cho “Nước Mỹ Trước Hết” (American First) mà từ xưa đến nay Mỹ luôn luôn theo chủ trương có lợi cho nước Mỹ trên hết. Thấy lợi là Mỹ nhảy vào dù hy sinh xương máu, không lợi thì Mỹ rút lui dù ai có kêu gào giúp đỡ cũng phớt lờ (don’t care).  Chẳng qua những đời Tổng Thống Mỹ trước đây xuất thân chính trị chuyên nghiệp nên họ khéo ăn nói che được bản chất nước Mỹ mà thôi.  
Tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương, tuỳ theo từng giai đoạn mà Mỹ hành động có lợi nhất cho nước Mỹ. Việc bỏ Cam Ranh năm 1975 nay trở lại đều nằm trong tính toán chiến lược của Mỹ.

a) Giai đoạn 1992-2009:
Từ năm 1992, Hải Quân Mỹ đã chủ trương làm chủ những eo biển chiến lược sinh tử trên Ấn Độ -Thái Bình Dương như đã đề cập ở trên, cùng thời kỳ ấy HK đã chuẩn bị liên kết vùng Đông Nam Á bằng cách ngấm ngầm ủng hộ Indonesia đẩy mạnh sinh hoạt của Hiệp Hội Các Nước Đông Nam Á  gọi tắt là ASIAN [9].  
Mặc dù vậy, trong thập niên năm 1990,  nhận thấy TC đang đối phó với đói nghèo, còn loay hoay trong thềm lục địa, chưa có khả năng đặt chân ra Biển. Các nước vùng châu Á-Thái Bình Dương đang ngập lặn trong chiến tranh giữa các nước Cộng Sản “anh em” tranh dành lý thuyết Mác-Lê lỗi thời (VN đánh Cambodia, TC đánh VN).  Nhìn chung, khu vực này như “mớ bòng bong”. Mỹ thấy không có lợi về thương mại, nhúng tay vào thêm rắc rối,  chi bằng âm thầm giữ những eo biển quan trọng trên Biển để bảo đảm tuyến hàng hải là đủ. Thậm chí quay mặt để các nước Đông Nam Á tự cấu xé lẫn nhau hầu rãnh tay khai thác túi vàng đen dầu lửa ở Trung Đông. 
Chính sách của Mỹ lúc đó là cố làm chủ những mỏ dầu to lớn đại ở vùng Vịnh và tập trung  phát triển nền kinh tế  kỹ thuật điện tử “hight tech”.  Từ  đó những máy vi tính ra đời bằng bộ óc thông minh của con chíp điện tử microprocessor,  kỹ nghệ “dot com”,  hệ thống internet toàn cầ đưa nước Mỹ bước vào kỷ nguyên kỹ nghệ điện tử làm thay đổi vận hành thế giới, nước Mỹ ở vào thời kỳ kinh tế cực thịnh và nâng cao uy thế trên thế giới.
Dưới thời TT Bush vẫn thấy vùng Châu Á-Thái Bình Dương chưa phát triển, còn ở mức “xoá đói giảm nghèo” không phải là lúc khai thác quyền lợi, cũng như chưa có những đe doạ nguy hiểm cho an ninh nước Mỹ, nên TT Bush lơ là và vắng bóng tham gia các hội nghị quan trọng của khối ASIAN. Chỉ duy trì ngoại giao cần thiết, đứng quan sát tình hình thời cuộc.  Hơn thế nữa, đang đối đầu với chiến tranh chống khủng bố, phải cung cấp tài nguyên và nhân lực cho những cuộc chiến chống khủng ngoài nước và tăng cường an ninh nội bộ…

b) Giai đoạn 2009 – 2016:
Năm 2009, là năm TT Barack Obama mới bước vào Toà Bạch Ốc phải đối đầu với trăm ngàn ngổn ngang của TT Bush để lại. Nước Mỹ trong cơn khủng hoảng kinh tế trầm trọng, đang lâm vào cuộc chiến chống khủng bố ở hai chiến trường Iraq và Afghanistan còn mịt mù khói lửa, quân khủng bố Hồi Giáo vẫn tiếp tục khiêu khích trên thế giới tự do… Thừa nước đục thả câu, TC đệ trình lên Liên Hiệp Quốc bản đồ tự vẽ  “lưỡi bò 9 đoạn”  đòi làm chủ 90% diện tích Biển Đông vào giữa năm 2009. Báo hiệu quyền lợi của Mỹ ở Biển Đông và vùng Đông Nam Á bị đe doạ!
Lập tức, TT  Obama liền tuyên bố “Xoay Trục Châu Á” để đáp ứng kịp thời với chiến lược Siêu Cường Biển từng vạch ra sau thời hậu Cộng Sản.
Tháng 7/2010 tại Hội Nghị Diễn Đàn Khu Vực khối ASEAN (ARF) ở Hà Nội, cựu ngoại trưởng Hilary Clinton tuyên bố  “Biển Đông cũng là quyền lợi cốt lõi của Mỹ”,  khởi nguồn chiến lược ngoại giao đối phó với một TC đang hung hăng nổi lên. Lời tuyên bố của bà Clinton làm cho Bộ Trưởng ngoại giao TC Dương Khiết Trì nổi giận rời khỏi phòng họp. Khi trở lại, họ Dương tuyên bố một câu thô lỗ chưa từng có trong ngành ngoại giao “Trung Quốc là nước lớn, các nước khác là nước nhỏ, và đó là thực tế”.  Không lẽ ỷ nước lớn đi cướp các nước nhỏ hay sao, đó là hành động của bọn thảo khấu !
Qua những sự kiện cho ta thấy rằng Mỹ có chiến lược vạch sẵn của vị thế siêu cường. Tuỳ theo tình hình mà Mỹ biết lúc nào cần đặt ưu tiên hành động để đem quyền lợi cho mình.  
Dưới thời TT Barack Obama thấy âm mưu TC lộ ra rõ ràng, nhất là cuối năm 2014 trở đi, TC bắt đầu có hành động xâm lăng trắng trợn, hiếp đáp các nước yếu trong vùng, đưa giàn khoan HD981 vào vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam, xâm lấn vùng lãnh hải Philippines, đơn phương ra lệnh cấm đánh cá trên Biển Đông, hăm doạ các tàu chiến nước ngoài đến vùng biển TC cho là chủ quyền v.v.. Đặc biệt là TC nhanh chóng xây các đảo tân tạo trên vùng biển tranh chấp và ngày đêm lén lút xây căn cứ quân sự, bất chấp luật lệ quốc tế, xem thường “cảnh cáo” của Mỹ. Thậm chí còn thử “gan” của TT Obama bằng cách không cho thang máy ra Airforce One để Obama phải  xuống bằng “cửa hậu”.  
Sự phản ứng của Mỹ trong thời gian này tăng lên tùy mức độ. Phần chính chủ yếu về ngoại giao và vận động quốc tế gây sức ép đối với TC. Ban đầu Mỹ tuyên bố trung lập không đứng về phía nào của các nước tranh chấp Biển Đông, nhưng trên thực tế những đòi hỏi của Mỹ rất có lợi cho các nước nhỏ đòi chủ quyền trên Biển Đông. Cổ động việc “đàm phán đa phương”, trong khi TC chỉ muốn “đàm phán song phương” để dễ dàng ăn hiếp các nước yếu.  Mỹ khuyến khích Philippines đưa TC ra toà phán xét PCA về xâm phạm Biển Đông để quốc tế hoá hành động xâm lăng phi pháp của TC, và đã chiến thắng. Tiếp theo là có những hành động quân sự như cho chiến hạm hải quân tuần tra vào gần 12 hải lý ở các đảo tân tạo của TC để thách thức chủ quyền. Quốc hội HK thường hối thúc hành pháp có hành động quyết liệt hơn ở Biển Đông. Và Các bộ trưởng ngoại giao và quốc phòng HK đã liên tục viếng thăm thân thiện với các đối tượng trong vùng Đông nam Á như Mã Lai, Singapore, Indonesia, Miến Điện, Việt Nam và nhất là Philippines để tạo đồng minh. 
Nhất là năm 2016, Bộ Trưởng Quốc Phòng Ash Carter (dưới thời TT Obama) thường đi về vùng Châu Á Thái Bình Dương, ông đã tuyên bố tình hình Biển Đông bước sang giai đoạn 3: “Trong giai đoạn ba, quân đội Mỹ giữ vững và phát triển kết quả từ giai đoạn hai. Sẽ có thêm nhiều vũ khí hiện đại được đưa tới châu Á, bao gồm chiến đấu cơ F-35, máy bay trinh sát P-8 và tàu ngầm nguyên tử, máy bay ném bom chiến lược hiện đại cùng các kỹ thuật công nghệ tối tân về vũ trụ và hệ thống Internet. Bộ trưởng Carter tiết lộ quân đội Mỹ còn nắm trong tay một số vũ khí mới mà mọi người không thể ngờ tới sẽ được khai triển sử dụng ở châu Á-Thái Bình Dương.”
Tuy vậy, TC không chịu lùi bước, họ dùng đủ mánh khoé và hành động tiểu xảo để tiến hành xâm lăng, dùng du kích biển, dùng lực lượng bán quân sự v.v.. sử dụng chiến thuật “mềm nắn, rắn buông” để tiến hành làm chủ Biển Đông, họ đã xây “Vạn  Lý Trường Thành” trên biển để làm đầu cầu xuất phát cho quốc sách “Một Vành Đai, Một Con Đường” mà Tập Cận Bình chính thức tuyên bố trong hội nghị APEC tại Đà Nẵng là “không thể đảo ngược”.

c) Giai đoạn 2017….
Nhận thấy những biện pháp của TT Barack Obama chưa có khả năng đẩy lùi bước xâm lược của Tàu Cộng trên Biển Đông, TT Trump tiếp tục tiến hành chiến lược “Xoay Trục” của TT Obama bằng những bước mạnh hơn. Đến lúc TT Trump phải thực hiện chiến lược Siêu Cường Biển của mình để giữ Biển Đông. Ông đã đề ra chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương Tự Do và Rộng Mở mà bốn nước trụ cột là Mỹ-Ấn-Nhật-Úc đang thành hình một vòng đai bao vây kinh tế lẫn quân sự TC. Ông Trump đang tìm cách lôi cuốn những nước có địa chính trị liên hệ vào quỹ đạo của Mỹ, điểm nhắm là Việt Nam. Điều này chúng ta đã thấy khá rõ trong chuyến viếng thăm Việt Nam của TT Trump vừa rồi. Cách tiếp cận của TT Trump thấy mạnh hơn, cụ thể hơn và khác hơn so với các đời TT tiền nhiệm. Dĩ nhiên ông sẽ không lập lại cách thức mà các đời TT trước đã thực hiện không có kết quả.

Các chiến lược gia Tòa Bạch Ốc chắc chắn thấu triệt rằng: Nếu Mỹ rời khỏi Biển Đông thì sẽ mất những lợi điểm to lớn như:
– Mất Biển Đông là mất cửa ngõ đường biển và đường hàng không giao lưu với các nước quốc châu Á – Thái Bình Dương đối với quốc tế.
– Mất Biển Đông xem như chặt dứt móc xích  trên chuỗi dây xích Ấn Độ-Thái Bình Dương, tuyến đường lưu thông trên biển và trên không bị kiểm soát bởi Trung Cộng.
– Mất Biển Đông thì HK đã đánh mất vị thế Siêu Cường Biển. Tiếng nói của HK trên chính trường quốc tế không còn được tôn trọng. Thế thế giới có thể trở nên hỗn loạn.
– Mất Biển Đông, kéo theo các nước Đông Nam Á không còn niềm tin ở Mỹ, sẽ bổ về quỹ đạo TC, Mỹ xem như mất nguồn khai thác quyền lợi lớn nhất trong thế kỷ 21.  Kinh tế hàng đầu của Mỹ bị thách thức, địa vị Siêu Cường Biển bị hạ bệ. 
–  Mất Biển Đông, Mỹ sẽ bị bế tắc giao thương với vùng kinh tế châu Á có GDP chiếm hơn 30% GDP toàn cầu (10), đây là vùng có mức độ kinh tế tăng nhanh nhất thế giới hiện nay với thị trường nhân công rẻ là hấp lực cho giới đầu tư nước Mỹ.
Một HK đã chuẩn bị thế Siêu Cường Biển cả hằng trăm năm, càng ngày càng mạnh, càng hiện đại đang bỏ xa các nước trên thế giới. Ngày nay, Hoa Kỳ có uy thế tuyệt đối về mọi mặt chính trị, kinh tế, quân sự, tin học xứng với vị thế một Siêu Cường Biển vô địch, thử hỏi rằng HK có thể rời bỏ vị trí chiến lược trọng yếu Biển Đông để rồi nhận lãnh một hậu quả vô tiền khoáng hậu cho tương lai của nước Mỹ hay không? Chắc chắn không.  

Lời kết:


TT Hoa Kỳ Donald Trump và CT TC Tập Cận Bình đọc diễn văn về chiến lược của mình tại Hội Nghị APEC Đà Nẵng 11/2017

Hội Nghị APEC năm 2017 tại Đà Nẵng vừa rồi, qua hai bài diễn văn của TT Mỹ Donald Trump và và Chủ Tịch TC Tập Cận Bình đã mở ra một thế trận chiến lược đối đầu  “Ấn Độ-Thái Bình Dương Tự Do và Rộng Mở” và  “Một Vành Đai, Một Con Đường” mà Biển Đông là tâm điểm của sự tương khắc đó.  
Cuộc đối đầu này không đơn thuần về quân sự, nó là một trận chiến tổng hợp về kinh tế, quân sự, ngoại giao, tin học…
HK đã ba lần chiến thắng các trận đại chiến trên thế giới trước đây. Lần này Mỹ bước vào cuộc chiến mới với ưu thế tuyệt đối của mình, không có lý do gì mà Mỹ thua trận ở Biển Đông. Trừ khi Tập Cận Bình từ bỏ đấu óc bá quyền Đại Hán để chung sống hoà bình với nhân loại. Nếu không Trung Hoa sẽ gánh một hậu quả khôn lường cho “giấc mơ Trung Hoa” của họ..
Trọng tâm của cuộc đối đầu Trung-Mỹ xẩy ra trên vùng biển Việt Nam, dân tộc ta một lần nữa không thể tránh được cảnh tương tranh này. Đối với TC luôn luôn có dã tâm chiếm nước ta để làm một tỉnh của Tàu như Tân Cương và Tây Tạng, nhà cầm quyền CSVN đang bị TC mua chuộc và  khống chế như một kẻ thừa sai, sự xâm lăng của Tàu Cộng đang tràn ngập nước ta đến mức thậm chí nguy. Nếu không một thế lực nào đủ sức ngăn chận dã tâm Đại Hán xuống Biển Đông và Đông Nam Á thì việc mất nước Việt Nam về tay TC khó tránh khỏi. Hiện nay chỉ có Mỹ mới có đủ khả năng ngăn chận TC.
Khi Hoa Kỳ coi trọng Biển Đông như một vị thế chiến lược không thể mất, thì chắc chắn họ sẽ trở lại vùng châu Á-Thái Bình Dương mà nước Việt vẫn là cứ điểm quan trọng. Dân tộc Việt cần khôn khéo vận dụng cơ hội này để đuổi TC ra khỏi nước ta. Tách rời sự cấu kết (răng môi) giữ tay sai CSVN và quan thầy TC là bảo vệ tổ quốc và là chặt đứt điểm tựa mà CSVN thường sử dụng để tiếp tục bám quyền cai trị. Được như vậy, công cuộc giải thể chế độ độc tài toàn trị  CSVN thuận lợi gấp bội phần.

Hoa Kỳ, ngày 17 tháng 11 năm 2017
Lê Thành Nhân (lethanhnhan@vietquoc.org)
==========================================
(1) Keegan, John. The American Civil War Knopf, 2009, 272.